Chuyện ít biết về vị bác sĩ đứng sau 2 quyết định táo bạo trong dịch SARS khiến WHO ngỡ ngàng

“Tôi nghĩ, để vượt qua được dịch bệnh năm đó, quyết định mở cửa buồng bệnh đóng vai trò quan trọng”, BS Nguyễn Hồng Hà, thành viên Ban chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19, thành viên Hội đồng chuyên môn Bộ Y tế kể.
Hà Ly Hà Ly
Bác sĩ Nguyễn Hồng Hà - nguyên PGĐ Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, là người đóng vai trò then chốt trọng trong chiến thắng của Việt Nam trước đại dịch SARS 2003. 17 năm sau, ông tiếp tục tham gia vào trận tuyến chống COVID-19 với vai trò thành viên Ban chống dịch, Hội đồng chuyên môn của Bệnh viện, Hội đồng chuyên môn của Bộ Y tế; tham gia tập huấn cho các tỉnh về phòng chống COVID-19. 
 
Năm xưa, chính ông là người đưa ra 2 quyết định táo bạo, chưa từng có tiền lệ trong điều trị bệnh nhân SARS khiến cả chuyên gia của WHO cũng bất ngờ, để rồi hôm nay Việt Nam sở hữu những "vũ khí" chống dịch COVID-19 vô cùng đặc biệt. Dưới đây là những chia sẻ của BS Hà trên soha.vn.
 

Gồng mình đối phó với dịch bệnh trong thiếu thốn 

 
Là thành viên Ban chống dịch của Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương, bác sĩ Nguyễn Hồng Hà chia sẻ thường xuyên phải tiếp những cuộc gọi dài, bất kể giờ giấc, bất kể ngày đêm, để tư vấn chuyên môn. Đặc biệt, kể từ khi bệnh viện tiếp nhận điều trị cho một số bệnh nhân COVID-19 nặng, sức ép với đội ngũ y bác sĩ càng lớn hơn. Các bệnh nhân phải thở máy, lọc máu, tình hình Sức Khỏe diễn biến phức tạp và phải theo dõi rất sát sao. Mọi chuyển biến của bệnh nhân đều được các bác sĩ báo cáo chi tiết với Hội đồng chuyên môn của Bệnh viện, trong các cuộc hội chẩn hàng ngày.
 
Bác sĩ Nguyễn Hồng Hà cho biết, đối với nhóm bệnh nhân trở nặng đã bị viêm phổi, suy hô hấp (chiếm khoảng 20% bệnh nhân nặng), có khoảng 15% chỉ cần dùng máy thở không xâm nhập, có nhiều khả năng sẽ hồi phục tốt; 5% bệnh nhân nguy kịch, phải can thiệp thở máy xâm nhập hoặc sử dụng phương pháp ECMO (trao đổi oxy qua màng tế bào) và lọc máu. 
 
Hai quyết định táo bạo trong dịch SARS để 17 năm sau trở thành 'vũ khí' lợi hại chống COVID-19
Bác sĩ Nguyễn Hồng Hà - nguyên PGĐ Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương có nhiều kinh nghiệm đối phó với dịch bệnh
 
Điểm chung của các bệnh dịch do virus gây ra với đường hô hấp như SARS hay SARS-CoV-2 là gây tổn thương bội nhiễm nghiêm trọng cho phổi, khó khăn trong điều trị. Bác sĩ Hà nhấn mạnh, về lý thuyết, trong 2 bệnh nhân nguy kịch, có thể cứu được 1 người cũng đã là may mắn. Dù vậy, tất cả đội ngũ y bác sĩ đang cố gắng hết sức, bằng mọi cách để các bệnh nhân nặng không lâm vào tình trạng nguy kịch, giữ cho Việt Nam không có ca tử vong vì COVID-19. Hoặc nếu chẳng may có ca tử vong, thì sẽ là con số ít nhất có thể.
 
Với kinh nghiệm của chuyên gia tuyến đầu chống hai dịch bệnh, bác sĩ Nguyễn Hồng Hà nhận định, bệnh SARS khó lây hơn COVID-19. Dù có bộ gen giống đến 80% so với virus SARS-CoV cách đây 17 năm nhưng SARS-CoV-2 đã có một đột biến quan trọng, giúp nó bám vào một protein thụ thể gọi là ACE2 trên màng tế bào người.
 
Nồng độ virus SARS-CoV-2 trong các chất tiết của đường hô hấp rất cao. Virus này lại có khả năng bám dính tốt vào tế bào người, dẫn đến khả năng lây lan mạnh mẽ. Nếu SARS trước đây có tỷ lệ lây nhiễm là 2,0 thì COVID-19 khoảng 4,08, tức là một người có thể lây nhiễm cho 4,08 người.
 
Có đôi chút khác biệt về tỷ lệ tử vong, nếu virus SARS-CoV năm 2003 có tỷ lệ tử vong khoảng 9,6% tổng số ca nhiễm thì với COVID-19, con số hiện tại là 4,5%. Một điểm khác biệt nữa nằm ở biểu hiện lâm sàng, năm 2003, hầu hết các nước, trong đó có Việt Nam, chỉ khám và kết luận những trường hợp mắc SARS có biểu hiện lâm sàng.
 
Còn hiện nay, có tới 50% số ca dương tính với SARS-CoV-2 không có biểu hiện lâm sàng, chỉ được phát hiện nhờ xét nghiệm. Như vậy, nếu theo "công thức" với dịch SARS, thì tính tỷ lệ tử vong cũng phải tương đương 9%. Chuyên gia này khẳng định, virus SARS-CoV-2 có độc tính mạnh tương đương SAR-CoV 2003 nhưng nguy hiểm hơn hẳn, do rất dễ lây lan.
 
Khi có dịch bệnh bùng phát, nỗi lo chung của nhiều quốc gia là thiếu thốn trang thiết bị y tế. Thực trạng này xảy ra không chỉ với Việt Nam mà cả những nước kinh tế phát triển. 17 năm trước, Việt Nam đối phó với dịch SARS trong bối cảnh thiếu thốn mọi thứ đặc biệt về trang thiết bị y tế phục vụ điều trị và bảo hộ y tế.
 
Bác sĩ Nguyễn Hồng Hà kể, đầu tiên là hoàn toàn không có test để xét nghiệm. Nhiều tháng sau khi phát đi cảnh báo về dịch bệnh, các chuyên gia Việt Nam mới tìm thấy virus SARS trong chất đờm của bệnh nhân qua kính hiển vi điện tử. Vì thế, hầu hết ca chẩn đoán đều dựa vào biểu hiện lâm sàng và yếu tố dịch tễ (liên quan đến bệnh viện Việt - Pháp).
 
Hai quyết định táo bạo trong dịch SARS để 17 năm sau trở thành 'vũ khí' lợi hại chống COVID-19
Các y bác sĩ tại BV Bệnh Nhiệt đới 17 năm trước chống dịch SARS trong bối cảnh thiếu thốn cơ sở vật chất. (Bác sĩ Hà ngoài cùng bên phải)
 
 
Tuy nhiên, khó khăn nhất phải kể đến thiếu thốn phương tiện phòng hộ. Hồi đó, nhân viên y tế không được trang bị những bộ đồ bảo hộ như phi hành gia như bây giờ. “Nói một cách hình ảnh thì chẳng khác gì y bác sĩ "không một mảnh giáp" phơi mình trước con virus”. Nhân viên y tế trong phòng khi tiếp xúc với bệnh nhân nhiễm virus chỉ đeo 2 hai lớp khẩu trang chuyên dùng trong phòng mổ, áo bảo hộ không có nên phải dùng áo phẫu thuật.
 
Về mặt hồi sức, phương tiện chữa cho bệnh nhân nặng rất thiếu thốn, nhất là máy thở. Ban đầu chỉ có 2 máy thở cũ. Sau hơn 1 tuần xảy ra dịch bệnh, Nhật Bản mới viện trợ 2 máy thở mới, tổng cộng là 4 cái.  Dù vậy, các y bác sĩ vẫn hết sức kiên cường, tuyệt đối không lung lay. “Bệnh nhân đã luôn trong tình trạng hoảng loạn, nếu nhân viên y tế mà cũng sợ lây nhiễm và không ở gần họ, thì họ sẽ không biết bấu víu vào đâu”, bác sĩ nói. 
 

Hai quyết định táo bạo khiến WHO ngỡ ngàng

 
“Nhưng tôi nghĩ, để vượt qua được dịch bệnh năm đó, quyết định mở cửa buồng bệnh đóng vai trò quan trọng…”, bác sĩ Hà nói về quyết định táo bạo cách đây 17 năm mà ông là người đi tiên phong.
 
“Ngày 8/3/2003, khi được mời sang bệnh viện Việt - Pháp hội chẩn, tôi thấy viện đóng kín mít, rất u ám, ngột ngạt, không có một cánh cửa nào mở ra. Tôi đi vào đó chỉ chừng 30 phút mà đã thấy khó chịu.
 
Sau đó 2 ngày, khi ngồi ở Viện Lâm sàng các Bệnh nhiệt đới, dù lúc ấy chưa có bệnh nhân SARS, tôi vẫn suy nghĩ mãi. Tôi đã nói với anh em trong viện: chúng ta phải làm cái gì khác chứ nếu để tình trạng như Bệnh viện Việt – Pháp, nhân viên y tế chữa cho bệnh nhân hôm trước, hôm sau lại trở thành người bệnh, thì không ổn”, bác sĩ kể lại.
 
Sau khi bàn bạc với các cộng sự, bác sĩ Hà quyết định cho mở cửa tất cả buồng bệnh để tăng đối lưu không khí. Khi biết các bệnh viện Việt Nam làm điều này, chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới đã khuyên ngăn và cho rằng phải đóng cửa buồng bệnh để tránh lây lan ra khu dân cư. Y bác sĩ muốn không bị lây nhiễm thì phải vào phục vụ, thăm khám bệnh nhân nhanh chóng rồi trở ra ngay lập tức để hạn chế thời gian tiếp xúc với nguồn bệnh.
 
Hai quyết định táo bạo trong dịch SARS để 17 năm sau trở thành 'vũ khí' lợi hại chống COVID-19
Các bác sĩ thăm khám một bệnh nhân mắc SARS tại Viện y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới năm 2003. Phía sau toàn bộ cửa sổ và cửa ra vào đều được mở.
 
Tuy nhiên,vị bác sĩ tuyến đầu chống dịch cho rằng, không thể để bệnh nhân một mình trong buồng bệnh. Hồi đó phòng bệnh không có camera, không có phương tiện gì hỗ trợ giúp theo dõi tình hình bệnh nhân, tình hình diễn biến khó lường, không thể thiếu y bác sĩ túc trực. Nếu không nhìn thấy y bác sĩ, bệnh nhân sẽ rất hoảng sợ, không thể để yếu tố tâm lý ảnh hưởng tới việc điều trị.
 
Các chuyên gia WHO đến từ những nước có điều kiện hiện đại. Đối với các bệnh dịch, họ thường điều trị, cách ly bệnh nhân trong phòng áp lực âm nên đã quen với việc đóng kín cửa. Nhưng ở điều kiện Việt Nam lúc đó, phương pháp này chưa thể áp dụng. Bệnh SARS vốn lây qua giọt bắn, nếu ở trong điều kiện phòng kín, không khí ít lưu thông có thể là điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh tập trung đủ lớn để đạt ngưỡng gây nhiễm.
 
Thực tế, quyết định này đã được chứng minh hiệu quả khác biệt. Sau khi 2 nhân viên y tá của Bệnh viện Việt - Pháp qua đời vì dịch bệnh, suốt 1 tuần sau đó, Viện Lâm sàng các Bệnh nhiệt đới mở toang cửa chống SARS mà không ghi nhận bất cứ nhân viên y tế nào nhiễm bệnh khiến lãnh đạo bệnh viện càng tin tưởng vào quyết định này. Cách làm này không chỉ giúp y bác sĩ không bị lây nhiễm chéo mà còn giúp tất cả các bệnh nhân khác và người nhà của họ đến thăm đều không bị lây nhiễm. Vì vậy, dù là nơi điều trị trực tiếp cho các ca bệnh nhưng Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TƯ (khi đó còn trực thuộc BV Bạch Mai) lại là điểm an toàn.
 
Sau khi Bộ Y tế đóng cửa BV Việt - Pháp, khử khuẩn toàn bộ khu vực này, cả nước không còn nguồn lây nhiễm và nhanh chóng thanh toán dịch. Quyết định mở toang phòng bệnh sau này được gọi là bàn thắng quyết định giúp Việt thắng trận chiến dịch SARS.
 
Bên cạnh đó, bác sĩ Hồng Hà còn cho biết một kinh nghiệm khác mà đến nay vẫn được ứng dụng trong điều trị cho người bệnh COVID-19. “Thời đó, chúng tôi đã có một quyết định, rất quan trọng, là để bệnh nhân nặng thở máy không xâm nhập. Chúng tôi nhận thấy, trong điều kiện bệnh nhân vẫn còn tỉnh táo, không tụt huyết áp thì thở máy không xâm nhập rất tốt. Nếu bệnh nhân hồi phục, bác sĩ có thể bỏ máy ra được luôn và bệnh nhân không bị biến chứng nhiễm trùng hay chấn thương áp lực”, bác sĩ Hà kể.
 
Quyết định này được đưa ra sau khi rút kinh nghiệm từ viện Việt – Pháp. Trước đó, tất cả các bệnh nhân thở máy xâm nhập (đặt ống nội khí quản) ở viện này đều tử vong (trừ y tá Nguyễn Thị Mến là người duy nhất sống sót).
 
Hai quyết định táo bạo trong dịch SARS để 17 năm sau trở thành 'vũ khí' lợi hại chống COVID-19
Y tá Nguyễn Thị Mến là nhân viên y tế duy nhất của BV Việt - Pháp sống sót sau khi nhiễm SARS
 
Theo bác sĩ Hà, không thể phủ nhận, áp dụng biện pháp thở máy không xâm nhập có nhiều ưu điểm nhưng sẽ vô cùng vất cả cho y bác sĩ. Họ phải theo sát bệnh nhân 24/24, khi bệnh nhân ăn, phải đứng bên đút cho họ từng thìa, ăn một miếng, lại phải vội dừng để chụp mặt nạ oxy vào, cứ như vậy cho đến lúc phục vụ xong. Việc phục vụ vệ sinh cho bệnh nhân SARS năm đó cũng là thử thách cam go với nhân viên y tế.
 
“Bệnh nhân SARS thường sốt rất cao, phải hạ sốt nhiều. Nhân viên y tế vừa truyền, vừa chườm cho bệnh nhân, phục vụ ăn uống, vệ sinh, tắm giặt. Vì các buồng bệnh không có phòng vệ sinh, y bác sĩ phải dìu bệnh nhân ra ngoài. Nếu bệnh nhân nặng, phải thở máy, phải quây lại, cho bệnh nhân vệ sinh tại chỗ”, bác sĩ Hà nói.
 
Năm đó, chính bác sĩ Nguyễn Hồng Hà là người đề xuất với GS.TS Trần Quỵ là Giám đốc BV Bạch Mai năm đó, miễn phí toàn bộ chi phí thăm khám, điều trị SARS để thu hút tất cả các bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng tới Viện Lâm sàng các Bệnh nhiệt đới điều trị. Bác sĩ Hà gửi công văn đề nghị GS Trần Quỵ ưu tiên cho các bệnh nhân trong giai đoạn chống dịch, bỏ qua các thủ tục bắt buộc mất nhiều thời gian để người bệnh được dùng những biện pháp tốt nhất, những loại kháng sinh có hiệu lực cao nhất…
 
Ngoài ra, phải kể đến sự tận tụy, kiên trì, dũng cảm của đội ngũ y bác sĩ một lòng giúp người bệnh chiến thắng bệnh tật, không bị tâm lý hoảng sợ. Đây có lẽ là điều không thể thiếu ở những chiến sĩ áo trắng Việt Nam, dù ở thời nào cũng không lùi bước trên mặt trận chống dịch. Nhờ tất cả những điều đó mà Việt Nam chiến thắng dịch bệnh dù là trong điều kiện khó khăn, 34/34 bệnh nhân của viện được cứu chữa, khỏe mạnh.
 
17 năm sau tiếp tục tham gia vào một cuộc chiến chống dịch bệnh khác, bác sĩ Nguyễn Hồng Hà đánh giá hệ thống y tế của Việt Nam đủ sức đối phó với những tình huống xấu nhất. Nếu như trước đây, khoa Hồi sức cấp cứu ở Viện Lâm sàng các Bệnh nhiệt đới chỉ có 24 giường với 12 giường nặng, 2 máy thở. Sau khi xây lại cơ sở, cơ sở 1 đã có 50 giường hồi sức, cơ sở 2 ở Đông Anh cũng có khoảng 50 giường.
 
Trên quy mô 500 giường bệnh mà có tới 100 giường được trang bị đầy đủ trang thiết bị với khoảng 60 máy thở, đã là một bước phát triển mạnh mẽ so với 17 năm trước. Dù vậy, bác sĩ Hà vẫn nhấn mạnh sự chuẩn bị về nhân lực, “trong lúc dịch bệnh mà năng lực của y bác sĩ không đủ tốt thì gay go lắm”.
 
Đến nay nhân viên ý tế đều làm chủ được kỹ thuật khó, thực hiện được mọi năng lực về xét nghiệm. Nhiều nơi được trang bị máy xét nghiệm PCR chỉ cần có sinh phẩm là nhận diện được virus cả ở người chưa có triệu chứng…
 
Tất cả những điều này đều là bước tiến quan trọng có ý nghĩa rất lớn trong việc sàng lọc, cách ly để chặn dịch. Sau 17 năm bằng kinh nghiệm đương đầu với nhiều dịch bệnh, Việt Nam hôm nay có đủ năng lực, đủ vững vàng, không chủ quan nhưng cũng không sợ hãi khi đối đầu với đại dịch toàn cầu COVID-19.
 
 
Hà Ly (t/h)


Tin nổi bật cùng chuyên mục