Quy Nhơn – "Ngọc Hồi – Đống Đa" phía Nam: Hàng vạn quân Pháp – Ấn bị thiêu rụi trong biển lửa phốt pho

"Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Huy Hiệu cùng Kỹ sư Thanh khẳng định: Bác Hồ nói 'Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà' là bởi Người tiếp nhận thông tin từ chính nhận thức của nhân dân thời bấy giờ được ông cha các đời trước truyền miệng qua nhiều thế hệ."
Napoleon muốn gì? – Cơn khát diêm tiêu sống còn
Để hiểu tất cả mọi việc, trước tiên chúng ta phải hiểu Napoleon muốn gì. Đệ nhất Tổng tài Napoleon năm 1801 không thể mơ màng đến những thứ chính trị cao xa như tầm ảnh hưởng, thuộc địa hay thương mại. Napoleon cần phải tồn tại và chiến thắng. Mà để tồn tại và chiến thắng, súng pháo của ông ta phải bắn được. Nói ngắn gọn: thứ mà Napoleon cần mỗi khi thức dậy năm 1801 là thuốc súng. Tất cả các thứ khác chỉ là hàng thứ hai. Không có thuốc súng, ông ta có thể bị hạ bệ, bị bắt bất cứ lúc nào.
Thuốc súng có 75% là diêm tiêu. Hay nói dễ hiểu: diêm tiêu chính là thuốc súng. Napoleon đã bắt toàn dân Pháp nháo nhào cạo tường nhà để tìm những lớp diêm tiêu mong manh hình thành 1.000 năm một lần trong điều kiện khí hậu lạnh giá châu Âu – và đã hết rồi, không thể chờ 1.000 năm nữa. Nguồn diêm tiêu tại Bengal (Ấn Độ) mà Pháp tranh giành với Anh bằng nhiều cuộc chiến tranh lâu năm cũng đã lọt vào tay Anh tuyệt đối.

Trong tay Napoleon lúc này chỉ còn mỗi Đại Việt – nơi diêm tiêu tinh khiết được hình thành tầng tầng lớp lớp trong các hang dơi trải hàng nghìn năm. Napoleon có Hiệp ước Versailles 1787, nhưng với việc đổ 66.200 quân Pháp/Ấn (như sách John Barrow mô tả) không đánh bại được Tây Sơn; đội quân đông này còn có phần lép vế.
Để có thể tồn tại chứ chưa nói đến việc chiến thắng việc đầu tiên Napoleon phải tìm cách nào đó để hàng nghìn tấn diêm tiêu tầng tầng lớp lớp trong các hang dơi kia về nạp vào nòng súng pháo, và không có cách thứ hai. Thuốc súng toàn thế giới cho đến năm 1912 – khi mà cả thế giới chế tạo ra tàu ngầm, tên lửa, máy bay – vẫn phụ thuộc vào diêm tiêu, hay rộng ra là phụ thuộc vào lớp tích tụ từ phân dơi trong các hang động Việt Nam. Nếu không có thuốc súng, đồng nghĩa với cái chết. Trong suốt thời gian của mình, đối với Napoleon, thuốc súng bao giờ cũng là ưu tiên số một.
Thế trận năm 1801 – Tây Sơn đang thượng phong
Năm 1801, Đại Việt dưới triều đại Tây Sơn đã chiến đấu với đội quân Pháp-Ấn theo tinh thần Hiệp ước Versailles 1787 được 13 năm. Đội quân này lên tới 66.200 tên Pháp/Ấn, nhưng những chiến binh Đại Việt, nhờ có vũ khí phốt pho, đang ở thế thượng phong.

Đô đốc Trần Quang Diệu và Đô đốc Võ Văn Dũng đang bao vây hàng vạn quân Pháp-Ấn với trang bị súng pháo tại Quy Nhơn. Triều đình vua Cảnh Thịnh đang tính đến một "Ngọc Hồi – Đống Đa phía Nam" và mơ đến một ngày tiêu diệt toàn bộ đạo quân xâm lược đang dày xéo đất nước để lấy diêm tiêu (thuốc súng) ra khỏi bờ cõi, như họ đã từng thắng quân Xiêm và quân Thanh. Đô đốc Võ Văn Dũng đã nhiều lần chiến thắng thủy quân của đội quân Pháp-Ấn này.
Triều đình Tây Sơn theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động của đội quân 66.200 lính Pháp/Ấn. Khi đội quân này đánh ra Đà Nẵng, triều đình Cảnh Thịnh cũng không rút quân từ Quy Nhơn về, vì họ biết quá rõ đội quân này, họ tin tưởng rằng lực lượng phòng thủ tại Phú Xuân hoàn toàn có thể ngăn chặn đội quân này. Trải qua 13 năm đánh nhau, tuy trang bị súng pháo nhưng là những trang bị đã lỗi thời từ năm 1788, đã nhiều lần đại bại trên biển và trên bộ với Tây Sơn.

Trong rất nhiều cuốn sử nhà Nguyễn đều ghi rằng Nguyễn Ánh không cứu Võ Tánh ở Quy Nhơn mà bất ngờ đánh Phú Xuân, quân Tây Sơn không phòng bị gì nên thua. Đó là sự lừa dối trắng trợn, vì Nguyễn Ánh không đánh ra Phú Xuân ngay mà đánh Đà Nẵng từ tháng 3/1801, Tây Sơn hoàn toàn coi thường đội quân của Nguyễn Ánh, tự tin hoàn toàn với lực lượng phòng thủ Phú Xuân, không điều quân từ phía Nam hay phía Bắc về phòng thủ Phú Xuân.
Đây là bằng chứng rõ ràng cho thấy đội quân đánh vào Phú Xuân không phải là quân Pháp/Nguyễn Ánh từ Gia Định. Suốt 13 năm giao chiến, Tây Sơn đã thuộc nằm lòng đạo quân đó từng tên lính, từng khẩu súng. Một đạo quân quen mặt như vậy không thể khiến kinh thành sụp đổ chỉ trong một ngày.
Rà soát kỹ lưỡng Đại Nam Thực Lục, Kỹ sư Thanh phát hiện một điều đặc biệt: bộ sử này mô tả rất ngắn gọn việc Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân chỉ trong một ngày, quân Cảnh Thịnh không đánh mà tự tan – một điều vô cùng bất thường. Thu được quốc ấn, nhưng hoàng hậu, hoàng tử và vợ con các đô đốc Tây Sơn lại do nhân dân bắt giữ. Điều đó có nghĩa là quân Nguyễn Ánh không trực tiếp bắt giữ gia quyến của vua Cảnh Thịnh và các tướng lĩnh Tây Sơn. Đặc biệt nhất, theo chính sử này, Nguyễn Ánh không thu được vàng bạc dù vua Cảnh Thịnh phải bỏ lại cả gia quyến. Đây chính là bằng chứng không thể chối cãi chứng minh Nguyễn Ánh chỉ là kẻ đến sau – đã có một thế lực khác đi trước, thu gom toàn bộ vàng bạc, của cải, chỉ để lại những gì chúng không cần lấy.
Ba ngày trên thuyền – Bằng chứng không thể chối cãi
Nghiên cứu kỹ thư của Barisy – một sĩ quan bên cạnh Nguyễn Ánh – Kỹ sư Thanh phát hiện ra một hiện tượng siêu đặc biệt chứng minh rõ ràng Nguyễn Ánh không hề chiếm Phú Xuân:
"Đến 6 giờ chiều, Hoàng thượng ra lệnh cho tất cả quân đội phải lên tầu và chính người cũng lên tầu của người để ngủ." Tức là ngày 12/6, sau khi đánh bại quân Tây Sơn và vua Cảnh Thịnh bỏ chạy, Nguyễn Ánh cùng đoàn quân Việt của mình đã phải ở trên thuyền, không được vào thành tận đến ngày 15/6/1801 – tức 3 ngày sau.
Điều này cũng được một số phiên bản nguyên gốc của Đại Nam Thực Lục viết bằng tiếng Hán ghi lại: "Vua đóng thuyền giữa sông, sai các quân không được tự tiện lên bờ nhiễu dân. Đến ngày mùng 5, vua mới ngự giá vào thành.

Đây là bằng chứng rõ ràng nhất mà sử nhà Nguyễn cũng như ghi chép của Barisy khẳng định: Nguyễn Ánh và đội quân Việt của ông ta không hề chiếm Phú Xuân. Ngược lại, họ còn phải được phép của đội quân thực sự đánh chiếm Phú Xuân mới được lên bờ, vào thành.
Barisy còn ghi rõ: tất cả các nhà cửa rất to đẹp của các quan lại, tướng lĩnh Tây Sơn đều bị đập phá, bắt được toàn bộ gia quyến Tây Sơn. Vua Cảnh Thịnh chỉ còn kịp lên ngựa chạy ra Bắc.
Vũ khí Công nghệ cao – Thứ Tây Sơn chưa từng thấy
Nghiên cứu kỹ vũ khí được mô tả trong thư của Barisy, chuyên gia vũ khí Vũ Đình Thanh nhận ra rõ các loại vũ khí tiên tiến và uy lực khủng khiếp nhất của Pháp đã được sử dụng:

Đó là những vũ khí hiện đại nhất được phát triển khi Napoleon lên cầm quyền, đã được áp dụng và Tây Sơn chưa bao giờ gặp loại vũ khí này. Đội quân của Nguyễn Ánh và lính Pháp/Ấn cũng không hề có loại vũ khí này. Thêm nữa, ống nhòm giúp Pháp quan sát được từ rất xa, cùng pháo nòng xoắn và diêm tiêu tinh luyện khiến đạn của Pháp bắn xa hơn, chiến thuyền bọc đồng giảm sức cản của nước, đi nhanh hơn, hệ thống buồm phức tạp để chiến thuyền đi được ngược gió.
Quân phòng thủ Tây Sơn ở Phú Xuân đã gặp một đội quân với trang bị vô cùng hiện đại, vô cùng khác biệt, với vũ khí công nghệ cao nhất thời đó mới được sản xuất tại Pháp trong năm 1800 (chứ không phải đội quân cũ kỹ từ năm 1788 với trang bị lạc hậu mà Đô đốc Võ Văn Dũng và Đô đốc Trần Quang Diệu đang bao vây ở Quy Nhơn), nên tan rã nhanh chóng như Barisy mô tả.
Cũng theo ghi chép của Barisy, đội quân này hoàn toàn không thèm nghe lời chủ tướng, rất hăng máu tàn sát và sẵn sàng cướp bóc, tàn phá nhà cửa dinh thự, khiến một sĩ quan bảo hoàng Pháp như Barisy còn phải ghê sợ, kinh tởm.
Corsair – Cướp biển nhà nước của Napoleon
Kỹ sư Thanh, sau nhiều năm rà soát kỹ lưỡng các thông tin từ Ai Cập, Pháp, Mauritius, Java (Indonesia), Pondichéry (Ấn Độ), đảo Reunion, Hà Lan, Ma Cao, đã có một kết luận vô cùng cay đắng và cực kỳ đen tối của lịch sử Việt Nam:
Đội quân đánh Phú Xuân năm 1801 là đội quân man rợ nhất hành tinh khi đó – đội quân không có bất cứ một chuẩn mực đạo đức của chiến tranh. Đó là cướp biển nhà nước Pháp – CORSAIR, kết hợp với hải quân Pháp do Đô đốc Rosily chỉ huy.
Napoleon, sau một loạt thất bại trên biển, đã tạo ra một con quái vật: cướp biển nhà nước Pháp tức cướp biển được Napoleon cấp phép và trang bị để đội quân này cướp bóc tàu Anh và đồng minh, thực hiện việc vận chuyển vũ khí, diêm tiêu cho Pháp. Đội quân này được trang bị những chiến hạm hiện đại nhất thế giới thời đó: tàu bọc đồng với tốc độ cao gấp rưỡi tàu thường, trang bị những loại pháo uy lực nhất thế giới, hệ thống quang học đỉnh cao nhìn được rõ chỉ huy địch từ rất xa, và đặc biệt không bị ràng buộc bất cứ điều gì về nhân đạo hay luật đối xử hàng binh.
Hành trình thần tốc – Lợi thế của gió mùa
Tháng 5 năm 1801, có hai loại gió giúp 20 chiến thuyền cướp biển từ giữa Đại Tây Dương chỉ cần 35 ngày tập kích thẳng vào Phú Xuân:

Đây chính là bất ngờ mà Tây Sơn không thể lường trước.
Kỹ sư Thanh khẳng định: pháo bắn đạn chùm (grapeshot) phát kiến chiến thuật then chốt của Napoleon – đã đưa ông lên đỉnh cao quyền lực khi dùng nó đàn áp phe bảo hoàng tại Paris. Loại đạn này được khắc họa rõ nét trong thư của Barisy, là bằng chứng rõ ràng về bàn tay của Napoleon tại Phú Xuân năm 1801.
Rà soát kỹ lưỡng hoạt động của Đô đốc Rosily năm 1801nguyên là chỉ huy đội quân 7 trung đoàn và 20 chiến thuyền đổ bộ vào Gò Công để đánh Gia Định theo tinh thần Hiệp ước Versailles – Kỹ sư Thanh thấy sự biến mất tuyệt đối của ông trong mọi hoạt động chính thức suốt năm 1801. Điều này chính là xác nhận sự tham gia của tên chỉ huy này vào chiến dịch đánh Phú Xuân năm 1801. Bằng cách sử dụng cướp biển, Napoleon đã tránh được mọi phiền toái quốc tế.
Ba ngày kinh hoàng – Sự tàn bạo của cướp biển
Trong suốt 3 ngày, khi Nguyễn Ánh cùng toàn bộ quân Việt phải ở yên trên thuyền theo lệnh của hạm đội cướp biển, hàng nghìn tên cướp biển man rợ nhất hành tinh đã tràn vào kinh đô Phú Xuân. Chúng cướp sạch toàn bộ vàng bạc, châu báu của triều đại Tây Sơn, đồng thời thực hiện những hành vi tàn bạo nhất với gia quyến của triều đại này – bao gồm cả việc bắt cóc 5 công chúa Tây Sơn đưa sang Mauritius làm nô lệ. Chính sĩ quan Pháp Barisy, người chứng kiến tận mắt, cũng phải bày tỏ sự kinh tởm trong thư của mình trước sự dã man của đội quân ấy
Kỹ sư Thanh đã thu thập được những bằng chứng không thể bác bỏ: ghi chép của Anh cho thấy họ hoàn toàn không phát hiện hoạt động của cướp biển Pháp trong năm 1801; bức thư của Thống đốc Mauritius mô tả chi tiết về hiệp ước với "vua phương Đông"; biên bản nghiệm thu của Anh ghi nhận việc bắt giữ tàu cướp biển Pháp cùng hàng loạt vàng thỏi có nguồn gốc Việt Nam; và đặc biệt, giá diêm tiêu tại Mauritius trong giai đoạn 1801-1802 đột ngột sụt giảm – một minh chứng cho thấy nguồn cung diêm tiêu bất thường, khổng lồ đã đổ vào đảo.
Kỹ sư Thanh đã tìm ra câu trả lời vì sao Nguyễn Ánh không hề có vũ khí phốt pho: rất đơn giản, vì Nguyễn Ánh là kẻ đến sau, cướp biển của Napoleon đã giết chết tất cả. Đây là đòn nặng nề giáng vào hệ thống sản xuất vũ khí của Tây Sơn, khiến sau đó Tây Sơn chịu thất bại nhanh chóng.
Lý do chính cướp biển cấm Nguyễn Ánh lên bờ trong 3 ngày: chúng cần thời gian xóa sổ mọi dấu vết của công nghệ phốt pho – để không lọt vào tay nhà Nguyễn, để nhà Nguyễn mãi mãi lệ thuộc vào công nghệ Pháp.
Vậy, trong 3 ngày Nguyễn Ánh cùng quân lính của mình phải ngồi trên thuyền theo lệnh của đội quân cướp biển này thì còn điều gì nữa đã xảy ra? Cướp biển đã cướp toàn bộ vàng bạc, đập phá toàn bộ dinh thự, cướp tất cả diêm tiêu. Trước khi rút đi, đội quân này cảnh báo Nguyễn Ánh phải ngoan ngoãn thực hiện Hiệp ước Versailles. Nguyễn Ánh đã thực hiện ngoan ngoãn cho đến khi ông chủ của đội quân này – Napoleon – bị đi đày vào năm 1815.
Bằng chứng đanh thép: Đại Việt dưới triều Tây Sơn không hề có nội chiến – Đó là cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại
Các giáo sĩ phương Tây đã vô tình để lộ một bằng chứng vô giá: tờ Hịch của Hoàng đế Quang Trung năm 1792, vạch trần một loạt hiện thực lịch sử chấn động.
Vào năm 1792, trong con mắt toàn thể nhân dân, Nguyễn Ánh chỉ là một "kẻ khốn khổ" (misérable), không quân, không tướng, bỏ lại vô số xương khô của binh lính và đã tháo chạy sang châu Âu cầu viện. Điều này chứng tỏ Nguyễn Ánh hoàn toàn không nắm giữ vai trò gì tại Gia Định năm 1792 – trái ngược hoàn toàn với sử sách nhà Nguyễn đã tô vẽ. Sự thật được phơi bày: Nguyễn Ánh không hề chiếm lại Gia Định từ năm 1788.
Điều này trùng khớp với logic lịch sử: sau khi đại thắng quân Thanh năm 1789, Hoàng đế Quang Trung không kéo quân vào đánh Gia Định vì vùng đất này vẫn nằm trong tay Tây Sơn. Năm 1791, nếu Nguyễn Ánh thực sự kiểm soát Gia Định, Quang Trung không thể phái hàng vạn quân đi đánh Lào. Tất cả sử liệu quốc tế chứng minh rằng phải đến khi hàng vạn quân "mắt rắn xanh" với tàu đồng và khinh khí cầu – tức quân châu Âu – tấn công Gia Định , quân Tây Sơn mới buộc phải lui quân.
Kẻ thù thực sự đang đánh chiếm các bến cảng và khống chế toàn bộ Gia Định lúc bấy giờ chính là quân đội phương Tây – "lũ mắt rắn xanh". Việc Quang Trung tập trung tới 30 vạn đại quân – một con số khổng lồ – chắc chắn không phải để đối phó với 1.650 tên Tây dương như một số nguồn sử liệu cố tình hạ thấp, mà phải là cả vạn quân. Bởi lẽ, quân đội Tây Sơn đã từng chiến thắng 5 vạn quân Xiêm và 29 vạn quân Thanh. Hoàng đế Quang Trung ra lệnh:
“Đừng cả tin những gì lũ người Âu nói. Khéo léo tinh xảo gì chúng nó? Tất cả đều một bọn mắt rắn xanh. Các ngươi chỉ nên nhìn chúng như những xác chết trôi được vớt xuống từ biển Bắc. Có gì ghê gớm đâu mà ba hoa thuyền đồng, thuyền trường đà và những quả khinh khí cầu?”
Rõ ràng, số lượng lính Tây “mắt rắn xanh” phải lên tới cả vạn người, đi kèm hàng chục chiến hạm bọc đồng – tuần dương hạm viễn dương lườn sâu (thuyền trường đà), cùng khinh khí cầu – khiến nhân dân hoảng sợ và quan quân Tây Sơn tại Gia Định phải tháo chạy.
Đứng trước sự tàn bạo của lực lượng ngoại bang, nhân dân Gia Định đã tự dựng lên một đạo quân để nổi dậy chống lại ách đô hộ của lính Pháp. Ghi nhận sự phản kháng bi tráng đó, Quang Trung hứa sẽ đưa đại quân vào Nam "thanh tẩy", quét sạch hạm đội phương Tây, giải phóng hoàn toàn Gia Định – chứ không phải dân Gia Định chống lại Tây Sơn như một số bản dịch sai lầm trước đây. Nhân dân Gia Định hoàn toàn ủng hộ Tây Sơn. Quân số và trang bị khổng lồ của kẻ thù này trùng khớp với biên chế hạm đội 20 tàu chiến hạng nặng và 7 trung đoàn mà John Barrow đã mô tả.
Đây là bằng chứng đanh thép cho thấy Đại Việt dưới thời Tây Sơn đang đối đầu với hàng vạn lính Pháp – chứ không phải cuộc nội chiến như sử nhà Nguyễn đã tô vẽ suốt hai thế kỷ qua. Tờ Hịch này là lời hiệu triệu toàn dân kháng chiến chống thực dân phương tây lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc.

Sử Nguyễn bảo Võ Tánh (20 tuổi) tập hợp hàng vạn quân tại Gò Công năm 1788, sử dụng súng hỏa mai, pháo binh, xây thành Vauban – một điều hoang đường tột độ. Gò Công là đất khai hoang, dân cư thưa thớt, không có mâu thuẫn xã hội – lấy đâu ra hàng vạn thanh niên tráng kiện? Súng hỏa mai, chiến thuật "đội hình tuyến" (line infantry) đặc trưng của châu Âu – một thanh niên miệt vườn làm sao thành thạo chỉ trong vài tháng? Thành Vauban đòi hỏi kỹ thuật công binh đỉnh cao – ngay tại Pháp, để xây dựng một tòa thành Vauban cần tới 10.000 lính thợ lành nghề và ít nhất 6 năm, chứ đừng nói một thanh niên 20 tuổi cô độc ở vùng đất hoang vu. Trong giai đoạn 1788-1799, sử nhà Nguyễn ghi nhận chỉ có một mình Võ Tánh đánh nhau với Tây Sơn, hoàn toàn vắng bóng các tướng lĩnh trụ cột như Lê Văn Duyệt – một sự kiện phi lý nếu đó thực sự là quân Việt.
Sự thật trần trụi: Hàng vạn "quân Võ Tánh" thực chất chính là lực lượng Pháp – Ấn đổ bộ theo tinh thần Hiệp ước Versailles, chỉ được "Việt hóa" qua cái tên Võ Tánh để che đậy sự can thiệp ngoại bang.
Sử Nguyễn kể chuyện lãng mạn về cuộc vây hãm Quy Nhơn. Nhưng hàng vạn "con em Gò Công" ngã xuống – tại sao không một nén nhang nào được thắp? Sự câm lặng tâm linh này chứng tỏ: Không có con em Gò Công nào ở đây cả! Đó là lính đánh thuê Ấn Độ (Sepoys), lính Hà Lan (VOC), sĩ quan Pháp – bị vũ khí phốt pho của Đại Việt thiêu rụi. Đã đến lúc lịch sử cần một cuộc khai quật khảo cổ học quy mô lớn tại các hố chôn tập thể ở Quy Nhơn! Cấu trúc xương, bằng chứng ADN và nhân chủng học của hàng vạn lính lê dương dưới các tầng địa chất sẽ là bản cáo trạng vật lý không thể chối cãi, chứng minh sức mạnh của vũ khí Đại Việt thời Tây Sơn, bằng chứng bán nước của Nguyễn Ánh và cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại bị lãng quên của Tây Sơn.
Sự thất bại của Hoàng đế Cảnh Thịnh chính là bởi Tây Sơn chưa bao giờ gặp công nghệ hoàn toàn mới của Napoleon, kẻ đã có tay trong việc sử dụng Nguyễn Ánh làm mồi nhử. Khi đội quân cướp biển của Napoleon với vũ khí tối tân nhất thời bấy giờ bất ngờ xuất hiện, Hoàng đế vẫn đưa quân ra nghênh chiến vì bị lầm tưởng đó là đội quân cũ tầm thường và thất bại nhanh chóng. Nếu Hoàng đế Cảnh Thịnh có thông tin về đội quân bí mật này, hẳn ông đã có đối sách thích hợp – rút lui chiến lược hoặc đánh tiêu hao – thì sẽ không bị thua thảm hại như năm 1801.
Cũng trong thời điểm 1801, Napoleon đang ráo riết chuẩn bị cho Hòa ước Amiens (1802) với Anh, do đó rất có thể đã có một sự đồng thuận ngầm giữa các cường quốc phương Tây, bởi Tây Sơn là cái gai trong mắt tất cả họ. Ngoài việc Tây Sơn có thể khống chế các tuyến đường biển chiến lược, Kỹ sư Thanh còn có bằng chứng cho thấy Tây Sơn đã cung cấp vũ khí phốt pho cho các lực lượng chống Anh như Miến Điện hay các lực lượng trên biển. Vì vậy, trong giai đoạn này, Napoleon hoàn toàn có thể tập trung một lực lượng quân sự khổng lồ, lên tới cả vạn quân, từ ba nguồn: cướp biển Corsair, tàn quân Pháp từ chiến dịch Ai Cập, hàng vạn lính đánh thuê của Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) tại Java – tất cả đều về tay Napoleon.
Trận Quy Nhơn là một trang sử chống ngoại xâm oanh liệt bị thế lực bán nước dìm vào bóng tối. Hậu quả tất yếu đã đến. Khi tiếng súng của thực dân Pháp vang lên tại Đà Nẵng năm 1858, nhà Nguyễn nhanh chóng đầu hàng, đẩy cả dân tộc chìm vào đêm trường 80 năm nô lệ tối tăm.

Thế nhưng, ngọn lửa từ trận "Ngọc Hồi – Đống Đa phía Nam" của những chiến binh áo vải cờ đào chưa bao giờ tắt. Tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của người Việt vẫn âm ỉ chảy trong huyết quản, bùng lên qua các phong trào Cần Vương, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Điện Biên Phủ rúng động địa cầu, và trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ cứu nước.
Máu của những liệt sĩ Tây Sơn ngã xuống tại Quy Nhơn năm xưa đã hòa chung vào dòng máu của hàng vạn anh hùng liệt sĩ trong thời đại Hồ Chí Minh. Dòng chảy lịch sử vệ quốc vĩ đại và không khoan nhượng ấy đã đi một chặng đường dài, vượt qua bao đau thương của sự chia cắt và bán nước, để rồi hội tụ lại, vỡ òa thành khúc khải hoàn ca rực rỡ nhất trong Đại thắng Mùa Xuân ngày 30 tháng 4 năm 1975 – ngày đất nước vĩnh viễn sạch bóng quân thù, non sông thu về một mối!
Napoleon thực hiện hiệp ước Versailles 1787

Lịch sử giờ đây đã được thắp sáng bởi một bằng chứng vật chất tối thượng, phơi bày một sự thật không thể chối cãi: Thực dân Pháp đã thực sự thi hành Hiệp ước Versailles 1787. Khối chứng cứ thép đó chính là tấm bản đồ Côn Đảo mang mã số btv1b59630022, có niên đại 1799, được đóng ấn triện uy quyền của Bộ Ngoại giao Pháp – vắt ngang từ thời kỳ Cách mạng cho đến kỷ nguyên Napoleon.
Trên tấm bản đồ mang tầm vóc một văn kiện quốc gia này, thực thể "Trại lính Pháp" (Camp des François) được khắc họa rõ nét ngay tại Côn Đảo. Kết hợp cùng con dấu ngoại giao, tấm bản đồ đã vượt ra khỏi ranh giới địa lý đơn thuần để trở thành một Tuyên cáo pháp lý trước toàn thể các cường quốc đương thời: Côn Đảo chính thức là lãnh thổ thuộc Pháp, được chuyển giao qua một hiệp ước cấp nhà nước, và quân đội Pháp đã hiện diện chiếm đóng trực tiếp tại đây.
Những luồng ý kiến ngụy biện có thể viện dẫn rằng: một tấm bản đồ với chi tiết "trại lính" y hệt đã từng xuất hiện trong các ấn bản từ năm 1780 hòng phủ nhận vai trò của Hiệp ước 1787. Kỹ sư Thành nghiên cứu năm 1780, Pháp đã lén lút cắm chốt doanh trại. Nhưng đó thuần túy là sự chiếm đóng phi pháp, mang tính "đóng lậu" trên thực địa, và cái ung nhọt đó đã bị sức mạnh bão táp của quân Tây Sơn nhổ bỏ hoàn toàn vào năm 1783 trong chiến dịch truy quét Nguyễn Ánh. Do đó, việc tấm bản đồ này tái xuất hiện vào năm 1799 khoác lên mình con dấu quốc huy của Bộ Ngoại giao Pháp – là một lời khẳng định tàn khốc: Lần này, chúng không còn là những kẻ xâm nhập trái phép, mà đường hoàng đồn trú dưới sự bảo hộ danh chính ngôn thuận từ chính chữ ký "bán nước" của Nguyễn Ánh.
Xuyên suốt dòng chảy lịch sử, Hiệp ước Versailles 1787 chưa từng bị hủy bỏ hay giới hạn hiệu lực bởi bất kỳ chính quyền nào của nước Pháp, cũng như bởi Nguyễn Ánh trong mọi giai đoạn trị vì. Trái lại, dựa trên chính tấm bản đồ và bản hiệp ước này, thực dân Pháp đã liên tục đòi hỏi quyền lợi lãnh thổ, yêu cầu nhà Nguyễn giao nộp đất đai vào năm 1817 và đỉnh điểm là năm 1858 thời khắc chúng nã những phát súng đầu tiên, chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện Việt Nam.
Bí mật hàng trăm năm đã được vén màn. Nguyễn Ánh không chiếm Phú Xuân. Cướp biển Corsair của Napoleon mới là chủ công –Napoleon bằng mọi giá đổ hàng vạn quân để có thuốc súng (diêm tiêu 75%). Khi Corsair đánh Phú Xuân, Nguyễn Ánh mới bắt đầu từ Đà Nẵng tiến về – đó là lý do ông ta không có mặt trong trận đánh và bị cấm lên bờ sau đó. Tây Sơn đã chiến đấu trong một cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống ngoại xâm. Chỉ có khai quật khảo cổ mới trả lại công bằng cho lịch sử.
