Kích hoạt tăng trưởng hai con số: Đột phá từ chính sách vi mô

Ngày 14/7, tại Hà Nội, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số”.

Nhiều chuyên gia, nhà khoa học và đại diện cộng đồng doanh nghiệp cùng thảo luận về các giải pháp thể chế, tài khóa, tín dụng, Công nghệ nhằm tháo gỡ điểm nghẽn tăng trưởng, hướng tới mục tiêu đưa nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Ưu tiên nguồn lực có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn

Phát biểu khai mạc diễn đàn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh, diễn đàn được tổ chức vào thời điểm đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi đổi mới mô hình tăng trưởng sâu sắc hơn để từng bước đạt tốc độ tăng trưởng hai con số. Đây được xác định không đơn thuần là chỉ tiêu về quy mô hay tốc độ, mà là yêu cầu tạo ra bước chuyển về chất lượng thể chế, năng suất, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả phân bổ nguồn lực.

a2-1784070470.jpg

GS.TS.Lê Văn Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát biểu khai mạc tại Diễn đàn.

Theo đó, ổn định kinh tế vĩ mô trong những năm qua mới là điều kiện cần, còn năng lực tăng trưởng thực tế được tạo ra ở cấp độ doanh nghiệp, ngành, địa phương và từng dự án đầu tư cụ thể. Một nền kinh tế khó có thể tăng trưởng nhanh khi doanh nghiệp còn mất nhiều thời gian, chi phí cho thủ tục hành chính, khiến chi phí đầu vào tăng cao; khi đất đai, dữ liệu, công nghệ và nhân lực chưa được đưa vào sử dụng hiệu quả.

Vì vậy, bên cạnh việc củng cố nền tảng vĩ mô, cần chuyển mạnh trọng tâm sang cải cách vi mô có tính đột phá, tác động trực tiếp vào các điểm nghẽn của sản xuất, kinh doanh, tạo chuyển biến rõ về chi phí, năng suất và khả năng tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp.

Ba yêu cầu được đặt ra để các đột phá vi mô thực sự trở thành động lực tăng trưởng hai con số gồm: chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; chuyển từ chính sách bình quân sang chính sách có trọng tâm, ưu tiên nguồn lực cho những ngành, doanh nghiệp có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn; và coi chất lượng thực thi là một bộ phận cấu thành của chính sách, bởi sự chậm trễ trong triển khai cũng là một dạng chi phí của nền kinh tế.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cho biết, kinh tế Việt Nam khép lại nửa đầu năm 2026 với kết quả đáng khích lệ khi GDP tăng 8,18% so cùng kỳ, mức cao nhất trong vòng 16 năm, trong khi lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát.

Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đối diện nhiều rủi ro, thách thức như xung đột địa chính trị phức tạp, lạm phát toàn cầu khiến lãi suất neo cao, một số địa phương tăng trưởng thấp hơn mục tiêu, động lực tăng trưởng truyền thống chưa đồng đều trong khi động lực mới chưa phát huy nhiều.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, bài toán lớn đặt ra hiện nay là khi dư địa cho các chính sách vĩ mô truyền thống đang hẹp lại nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, động lực tăng trưởng tiếp theo cần đến từ sự đột phá của các chính sách vi mô. Diễn đàn tập trung mổ xẻ và đề xuất giải pháp trên 4 trụ cột: thể chế đột phá cho các khu kinh tế, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế; đổi mới chính sách thuế và tài khóa hỗ trợ tăng trưởng; tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn thông qua chính sách tín dụng linh hoạt; và xây dựng thể chế cho trí tuệ nhân tạo như một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cấp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

 

a1-1784070538.jpg
 

Toàn cảnh Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số”. 

Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho biết, giai đoạn 1986-2025, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm cao nhất mà nền kinh tế đạt được là 8,9%, trong giai đoạn 1996-2000. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 10% cho giai đoạn 2026-2030, động lực tăng trưởng cần dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng doanh nghiệp và hiệu quả thị trường, thay vì chỉ dựa vào mở rộng vốn, lao động và khai thác lợi thế chi phí thấp như trước.

Theo Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, khu vực doanh nghiệp Việt Nam hiện vừa là đối tượng chịu tác động của biến động kinh tế trong nước và quốc tế, vừa là chủ thể trung tâm quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao. Vì vậy, chính sách cần chuyển mạnh từ hỗ trợ chung sang chính sách vi mô đột phá, tập trung tháo gỡ rào cản thể chế, giảm chi phí tuân thủ, mở rộng tiếp cận nguồn lực, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cấp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, dù số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường liên tục tăng, tính đến giữa năm 2026 cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, phần lớn vẫn có quy mô vốn nhỏ, sử dụng ít lao động và tỷ suất lợi nhuận còn thấp. Để đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030 theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, số doanh nghiệp gia nhập ròng cần tăng mạnh trong giai đoạn tới, đi kèm với đó là các mục tiêu về năng suất lao động, tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng đóng góp vào GDP của khu vực kinh tế tư nhân.

Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn cho rằng, bốn điểm nghẽn vi mô đang cản trở mục tiêu tăng trưởng cao gồm: thể chế, tức chi phí tuân thủ, tính ổn định và thực thi chính sách; nguồn lực, gồm vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ, dữ liệu; thị trường, tức đầu ra, tiêu chuẩn, liên kết chuỗi giá trị; và năng lực đổi mới của doanh nghiệp, bao gồm cả nghiên cứu phát triển, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Từ đó, chính sách hỗ trợ cần được thiết kế phù hợp theo từng nhóm và giai đoạn phát triển của doanh nghiệp, từ hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, đến doanh nghiệp tăng trưởng cao và doanh nghiệp dẫn dắt, với nguyên tắc hỗ trợ phải tạo ra năng lực mới cho doanh nghiệp thay vì chỉ bù đắp khó khăn ngắn hạn.

Đề cập đến chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn như một động lực tăng trưởng mới, chuyên gia nghiên cứu tài chính Cao Minh Ngọc, Học viện Tài chính cho rằng, quá trình này chỉ có thể trở thành động lực tăng trưởng thực sự khi tạo ra sự thay đổi thực chất về công nghệ, năng suất và cấu trúc phân bổ nguồn lực của nền kinh tế, thay vì chỉ dừng ở mở rộng đầu tư hay đáp ứng yêu cầu môi trường trong ngắn hạn.

Theo bà Cao Minh Ngọc, chuyển đổi xanh tại Việt Nam hiện vẫn đang ở giai đoạn hình thành nền tảng hơn là tạo ra thay đổi mang tính cấu trúc, trong khi năng lực công nghệ nội sinh, hạ tầng truyền tải và thị trường vốn dài hạn cho các dự án xanh còn nhiều hạn chế. Để chuyển đổi xanh thực sự trở thành động lực tăng trưởng, cần ưu tiên cải thiện chất lượng thể chế, nâng cao tính ổn định của môi trường chính sách, đồng thời phát triển mạnh hơn năng lực công nghệ nội sinh và thị trường tài chính xanh.

Cũng tại diễn đàn, các diễn giả đã đề cập nhiều nội dung liên quan đến chính sách đột phá cho khu kinh tế, khu thương mại tự do; đổi mới chính sách thuế nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số; đổi mới chính sách tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh nhiều biến động; cũng như thể chế cho trí tuệ nhân tạo như một động lực tăng trưởng mới.

Các đại biểu cho rằng, tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới phải dựa nhiều hơn vào năng suất và năng lực nội tại của doanh nghiệp; điểm nghẽn chính hiện nay không chỉ nằm ở tổng cầu mà còn ở thể chế vi mô, nguồn lực, thị trường và đổi mới sáng tạo. Kích hoạt tăng trưởng, vì vậy, cũng chính là kích hoạt khả năng sống sót, lớn lên, đổi mới và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.